Bệnh Trầm cảm là gì? Dấu hiệu nhận biết bệnh trầm cảm và phương pháp điều trị hiệu quả

  12/07/2023

Thời đại ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, các áp lực đến từ môi trường làm việc, gia đình đè nặng lên tất cả chúng ta. Các vấn đề về tâm lý thường xuyên xuất hiện và làm ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống.

Bệnh trầm cảm, stress là vấn đề thường gặp nhất, ảnh hưởng rất nhiều đến đại đa số người trẻ, phụ nữ sau sinh, đàn ông và cả trẻ vị thành niên. Chính những áp lực từ cuộc sống, những ước muốn không thực hiện được, những cú sốc tâm lý,… và nhiều nguyên khác làm gia tăng các bệnh trầm cảm.

Dưới đây, là các phân tích của Bác sỹ, chuyên gia tư vấn và trị liệu tâm lý Giang Vũ sẽ giúp quý độc giả có nhiều thông tin chính hơn về bệnh trầm cảm cũng như phương pháp điều trị hiệu quả của PERG

1. Trầm cảm là gì

Trầm cảm là chứng bệnh về tâm thần học do sự rối loạn hoạt động của não bộ gây ra. Các biến chứng bất thường trong tâm lý đã tạo ra nhiều biến đổi bất thường trong suy nghĩ, cảm xúc và hành vi.

2. Dấu hiệu bệnh trầm cảm và mức độ nghiêm trọng 

Dấu hiệu trầm cảm ban đầu: 

  • Hàng ngày cảm thấy buồn chán, buồn chán không lý do.
  • Bản thân không muốn làm gì.
  • Cảm thấy cạn kiệt hết năng lượng.
  • Bỏ hết những đam mê, sở thích.
  • Bản thân không tự nhận thức được là mình có bệnh.
  • Dần tách biệt với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, xã hội và thế giới xung quanh.
  • Muốn xa lánh mọi thứ và thích ở 1 mình.

Dấu hiệu trầm cảm tăng dần, nặng nề dần: 

  • Cảm thấy sợ hãi, uể oải, thiếu sức sống .
  • Muốn buông xuôi mọi thứ.
  • Không muốn suy nghĩ hay làm việc .
  • Sợ người lạ, đám đông, sợ cả những người thân thiết.
  • Xuất hiện những nỗi sợ hãi chưa xuất hiện như: sợ bóng đêm, sợ sâu, sợ ánh sáng… 
  • Xuất hiện ảo tưởng.
  • Cau có, nổi giận vô cớ, cáu giận.
  • Khó ngủ, mất ngủ, ngủ không sâu giấc.
  • Cảm thấy không ai hiểu và không có ai giúp được mình. 
  • Mất niềm tin với người thân, bạn bè, đồng nghiệp, xã hội xung quanh. 
  • Không dám đối mặt với hiện tại.
  • Biết bản thân có bệnh nhưng không tin tưởng ai.

Dấu hiệu trầm cảm nặng:

  • Tuyệt vọng, mất hết niềm tin vào bản thân, con người, cuộc sống, xã hội.
  • Cảm thấy bản thân vô dụng.
  • Có xu hướng làm hại bản thân.
  • Xuất hiện hoang tưởng, cảm thấy không có lối thoát. 
  • Không muốn nghĩ đến quá khứ, tương lai.
  • Tiêu cực, cảm thấy mặc cảm, tội lỗi và nghĩ đến cái chết.
  • Ngủ li bì hoặc khó ngủ hơn bình thường, mất ngủ kéo dài.
  • Cảm giác ám ảnh bởi bệnh tật.
  • Thường xuyên nghĩ đến cái chết, khoảng 5-7 lần/ tuần trở lên. 

3. Bệnh trầm cảm có nguy hiểm không?

  • Tổ chức Y tế Thế giới WHO ghi nhận Trầm cảm là căn bệnh phổ biến và là gánh nặng bệnh lý đứng thứ 2 của toàn thế giới: 
  • Khoảng 280 triệu người đang phải chịu nhiều ảnh hưởng của bệnh trầm cảm. 
  • 75% tổng số ca bệnh tự tử vì chứng trầm cảm nặng. 
  • Tự tử là nguyên nhân thứ tư gây tử vong ở thanh thiếu niên 15-29 tuổi. 
  • 5% ca bệnh trở thành mối đe dọa nguy hiểm cho xã hội 
  • 22% do nghiện các chất kích thích và cờ bạc 
  • 3% do tâm thần phân liệt hay bệnh động kinh

Riêng tại Việt Nam, số người tự tử hàng năm vì trầm cảm ước tính khoảng 36.000 – 40.000 người (cao gấp 4 lần so với tử vong bởi tai nạn giao thông). 

Đây đều là những con số đáng báo động mà người bệnh tuyệt đối không được xem nhẹ.

4. Ảnh hưởng nghiêm trọng của bệnh trầm cảm

Ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất:

Ban đầu, người bệnh không còn muốn chăm sóc cho bản thân kể cả về vẻ bề ngoài đến sinh hoạt tối thiểu cho thân thể. 

Nếu kéo dài, hàng rào miễn dịch sẽ không thể đủ sức chống lại các tác nhân gây hại từ môi trường và biến chứng thành nhiều bệnh lý nguy hiểm như:

  • Tim, ung thư, tiểu đường, dạ dày…
  • Đau đầu, mất ngủ kéo dài.
  • Suy giảm ham muốn tình dục.

Ảnh hưởng đến tâm lý, tư duy:

  • Mất dần khả năng tập trung và lối tư duy tích cực, giảm hiệu quả học tập và làm việc.
  • Mất trí tuệ và phát triển bệnh Alzheimer ở giai đoạn sớm.
  • Lạm dụng các chất kích thích, gây nghiện để tìm sự thoải mái dù là ngắn hạn.
  • Thu hẹp cuộc sống, mối quan hệ xã hội, trở nên cô lập một mình.
  • Tự làm hại chính bản thân mình bằng cách tự tử hoặc luôn nghĩ tới sự chết chóc, bạo lực.
  • Có thể làm hại đến những người xung quanh.

5. Đối tượng dễ bị trầm cảm

  • Người vừa trải qua một tổn thương thực tổn: chấn thương nặng ở não bộ, …
  • Trải qua một sự kiện trọng đại gây tổn thương tâm lý: Ly dị, phá sản, nợ nần, mất đi người thân, gia đình hay con cái không hòa hợp, bạn đời ngoại tình, áp lực công việc quá lớn,…
  • Phụ nữ trước hoặc sau khi sinh con (chiếm tỷ trọng cao nhất trong tất cả các nguyên nhân gây trầm cảm).
  • Học sinh/sinh viên đang chịu nhiều áp lực về học tập và thi cử.
  • Phụ nữ tiền mãn kinh, tuổi hưu trí.
  • Thường xuyên chứng kiến hoặc trải qua những sự kiện gây tổn thương tâm lý: Bị ba mẹ (người thân) đánh mắng, chì chiết, áp đặt… hay sống trong gia đình ba mẹ không hạnh phúc, thường xuyên có mâu thuẫn.

6. Nguyên nhân bệnh trầm cảm

  • Do biến cố

Các biến cố tác động đến tâm lý từ thời điểm quá khứ và hiện tại. Không nhất thiết phải là một sự việc lớn gây sang chấn tâm lý, đôi khi chỉ là những áp lực nhỏ thường ngày nhưng bị dồn nén quá nhiều thứ cùng lúc; hoặc những sự kiện đó từng là nỗi ám ảnh trong tiềm thức thì vẫn sẽ tác động mạnh tới tâm trí con người.

 ⇒ Đây là yếu tố gây khó khăn trong việc điều trị bằng các phương pháp đông y và tây y.

Sang chấn tâm lý là một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến chứng Trầm cảm

  • Các yếu tố môi trường

Áp lực công việc; ô nhiễm môi trường; áp lực từ gia đình, bạn bè, đối tác, mẫu thuẫn mối quan hệ với người thân, đồng nghiệp, bạn bè, hoàn cảnh, môi trường sống… là những nguyên nhân dẫn với chứng stress và sau đó là trầm cảm.

Phụ nữ trong thời gian thai kỳ, nuôi con nhỏ

  • Thay đổi nồng độ hormone trong cơ thể.
  • Mang thai không theo kế hoạch hay ngoài ý muốn, chưa thích nghi với việc sẽ có em bé. 
  • Khi bé có vấn đề về sức khỏe hoặc phải điều trị dài ngày trong bệnh viện, người mẹ có thể trải qua những cảm xúc như buồn, giận, có lỗi. 
  • Biến chứng thai kỳ: thai lưu, sẩy thai.
  • Cảm thấy vô cùng mệt mỏi sau khi sinh, khó hồi phục trở lại như trước.
  • Thiếu sự giúp đỡ của người thân, mâu thuẫn với bạn đời hay người thân. 
  • Trải qua sự kiện căng thẳng như có người thân vừa qua đời, người thân trong gia đình mắc bệnh, thay đổi nơi ở,..

7. Phương pháp điều trị trầm cảm

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÔNG DÙNG THUỐC – ĐỘC QUYỀN VÀ DUY NHẤT TẠI VIỆT NAM – PERG

Việc TRỊ LIỆU có thật sự mang đến kết quả cụ thể CHỮA LÀNH BỆNH và KHÔNG CÒN CƠ HỘI TÁI PHÁT chủ yếu ở việc CHẨN ĐOÁN. Hãy cùng tham khảo bài viết dưới đây để biết PERG CHẨN ĐOÁN BỆNH như thế nào.

Theo liệu pháp tâm lý PERG phân định có 6 loại bệnh trạng:
1. Thân bệnh
2. Tâm bệnh (tâm lý hay tâm thần)
3. Tâm gây thân bệnh
4. Thân gây tâm bệnh
5. Thân và tâm cùng bệnh
6. Nghiệp bệnh

Việc TRỊ LIỆU có thật sự mang đến kết quả cụ thể CHỮA LÀNH BỆNH và KHÔNG CÒN CƠ HỘI TÁI PHÁT chủ yếu ở việc CHẨN ĐOÁN. Mục đích TÌM GỐC RỄ GÂY BỆNH (tác nhân) – biểu hiện bên ngoài như các hiện tượng đau nhức vật lý (material – nhìn thấy được hoặc có thể cân đong đo đếm được) như: Nhức đầu, đau vai, dị ứng, viêm soang, đau lưng, nhức mỏi, rối loạn phát triển – hành vi (tự kỷ. tăng động, kém trí nhớ, kém chú tâm tập trung…), ung thư, rối loạn tuần hoàn v.v…; hoặc các biểu hiện tâm lý (im-material – không nhìn thấy hay không cân đong đo đếm được) như: Trầm cảm, hoang tưởng, rối loạn giấc ngủ, rối loại tâm thức dẫn đến các hội chứng rối loạn phát triển…), bordeline v.v…

Nếu như KHÔNG THỂ CẮT ĐƯỢC GỐC BỆNH mà CHỈ CẮT TRIỆU CHỨNG! Thì không khác gì ĐÁ ĐÈ CỎ!

Vì sao? Bởi sau một thời gian nào đó, khi mang đá đi chỗ khác, thì vùng đất bị đá đè lên lúc đầu không thấy cỏ. Nhưng RỄ CỎ vẫn CHƯA NHỔ HẾT! Và một thời gian sau, khi có mưa gió nắng đầy đủ (những kích thích của môi trường bên ngoài hay của tự thân bên trong tác động) thì cỏ (bệnh, triệu chứng…) tất nhiên sẽ mọc lên lại!  Muốn CỎ KHÔNG MỌC lên nữa thì PHẢI TÌM KIẾM GỐC RỄ mà BỨNG LÊN cho tận gốc!

Còn việc áp dụng phương pháp nào để TRỊ, thì tùy theo trường hợp mà thích nghi! Vì lẽ, mỗi chứng BỆNH đều có một loại THUỐC (phương tiện, phương pháp) TƯƠNG ỨNG thích hợp cho căn bệnh đó!

Theo PERG, mọi triệu chứng (bệnh lý, hội chứng) đều PHẢI được CHẨN ĐOÁN TRƯỚC để xác định chính xác nó thuộc loại bệnh trạng nào trong sáu loại đã được liệt kê bên trên. Sau đó mới ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU thích ứng.

Tiếp tục theo dõi bài chia sẻ này, chúng tôi xin được đề cập trước về nhận thức cơ sở chủ yếu của PERG cho việc thiết lập Y Lý CHẨN – TƯ VẤN CAN THIỆP của liệu pháp này:

  • (hiện tượng, triệu chứng, hội chứng, bệnh…vui buồn, ầu bi khổ ưu não…) không thể độc lập mà SINH RA hay MẤT ĐI. Tất cả đều chịu ảnh hưởng của môi trường và cá thể mỗi người. Và bản thân chúng ta cũng cần BIẾN ĐỔI THƯỜNG XUYÊN, LIÊN TỤC, KHÔNG NGỪNG NGHỈ. Cho nên gọi chúng ta gọi đó là trạng thái thích nghi và hòa nhập
  • Lại nữa, khi nói đến 3 THÌ: Quá Khứ – Hiện Tại – Tương Lai
    Thì HIỆN TẠI là TƯƠNG LAI của Quá Khứ và chính ngay HIỆN TẠI đã là QUÁ KHỨ của Tương Lai!
  • Dựa trên hai 2 thuyết này, PERG  KHÔNG LÙI về QUÁ KHỨ xa xôi cũ để TÌM cái NHÂN gây bệnh! Mà cái NHÂN QUÁ KHỨ của PERG chính là việc CHẨN để tìm chính xác và XỬ LÝ cái  NHÂN NGAY TRONG HIỆN TẠI  tác động ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh triệu chứng, làm cản trở tính tích cực, gây rối loạn tâm lý dẫn đến rối loạn hành vi hay đau nhức v.v…
  • Ngay trong ca tư vấn CHẨN ĐOÁN đầu tiên, PERG đã có thể CHẨN ĐOÁN được NGAY các thể loại bệnh lý để PHÁT HIỆN “TÁC NHÂN GÂY BỆNH” (gốc bệnh lý!) bằng phương pháp test cơ năng lượng trực tiếp trên cơ thể bệnh nhân một cách chính xác nhất, không có bất kì một liệu pháp nào có thể tìm được
  • Nhân đây, chúng tôi xin thưa rằng: Liệu Pháp Năng Lượng Tâm Thể Phản Chiếu Trên Mặt tiếng Đức là Psychosomatische Energetische Reflexzonen Therapie am Gesicht, viết tắt PERG, là một liệu pháp do chính chúng tôi tổng hợp sáng chế. Liệu Pháp PERG đã kiểm chứng và được Cục Bảo Vệ Phát Minh và Thương Hiệu Đức (Deutsches Patent- und Markenamt) công nhận ngày 11.06.2012.
  • Các bạn có thể hiểu một cách đơn giản như sau.Điểm nóng ĐAU NHỨC và ÁM ẢNH TÂM LÝ – Có nhiều người bị đau lưng rất dữ dội hoặc mãn tính, nhưng cơ địa vẫn khỏe mạnh. Một sự cố ám ảnh tâm lý có thể là nguyên nhân chứng đau lưng như vậy.
  • Bé Piere hai tuổi ngồi trên ghế trẻ em ở hàng ghế phía sau. Đột nhiên bé nghe có tiếng la thất thanh của bố mẹ ngồi băng ghế trước. Chiếc xe đang chạy, bất ngờ đâm thẳng vào cản chắn đường. Piere chỉ trầy xoàng; còn ba Piere đã qua đời sau tai nạn này. 15 năm sau, Piere lúc nào cũng bị đau cột sống lưng mà không ai có thể chữa trị hoặc giải thích rõ ràng nguyên nhân.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LẬP TỨC:

 BẤM GỌI 0247.300.0785 – 0973.533.248

(Liên lạc qua điện thoại để đặt lịch tham vấn)

Có thể một sự cố xảy ra trong thời ấu thơ không có biểu hiện rõ ràng ở thân, nhưng khi trưởng thành thì có xuất hiện những triệu chứng đau nhức mãn tính nơi thân. Thật tế: Một ám ảnh tâm lý, chẳng hạn một tai nạn lưu thông hoặc mất cha hay mẹ, đôi khi cũng có liên quan đến sự đau nhức nơi thân. Dạng ám ảnh tâm lý như vậy sinh ra bởi sự TƯƠNG TÁC của cá thể với môi trường xung quanh họ và không tùy thuộc vào cá tính của người ấy – sự kiện này angười nào cũng có thể gặp phải. Tai nạn, thương tích, người thân qua đời hoặc một vụ tấn công thường vượt quá khả năng của con người trong sự nhận biết và xử lý. Vì thế cho nên những sự cố như vậy làm họ mất cân bằng tâm thức.

Có hai đặc điểm biểu hiện ám ảnh tâm lý: Trước tiên là cái sốc của thân, nghĩa là hậu quả vật lý của sự cố, cũng như nỗi sợ hãi cùng lúc trực tiếp xảy ra thể hiện như run rẩy hoặc xuất hạn mồ hôi. Thứ hai là một cảm thọ hãi hùng đi kèm. Cá nhân họ phải đối đầu mãnh liệt với nguy cơ sự hành hạ thân thể và cái chết đe dọa bản thân họ hoặc của một người khác. Cái sốc tâm lý này làm tê liệt gần như hoàn toàn sự suy nghĩ của họ.

Tuy nhiên vấn đề quyết định ở đây không nhất thiết phải là tính chất và mức độ của sự cố mang tính cách ám ảnh, mà là thể và dạng cảm nhận sự việc xảy ra như thế nào. Kết quả cuộc khảo sát của bà Karen Raphael thuộc đại học New York cùng nhóm chuyên gia của bà về số phận đeo đuổi gần 700 bệnh nhân đã bị lạm dụng tình dục hoặc bị bỏ rơi khi còn bé. Kết quả công trình khảo sát này đã được công bố năm 2001 cho thấy: Giữa những cảm thọ ám ảnh tâm lý và các chứng đau nhức sinh ra không có liên quan gì với nhau – kết quả này chống trái những quan điểm hàng đầu về lãnh vực này cho đến nay.

Mà đa phần sinh ra từ “cảm giác chủ quan” của họ, tư đồng hóa mình là “nạn nhân”: Những người tình nguyện được kiểm soát không bị lạm dụng tình dục, nhưng tự đồng hóa mình là một nạn nhân từ nhiều lý do khác nhau, cũng thường bị đau nhức thân thể như những người thật sự bị lạm dụng tình dục. Rõ ràng rằng, vấn đề không phải là người ta cảm nhận “cái gì” mà quan trọng là “cách” người ta cảm nghiệm “như thế nào” để sau này có hay không gặp khó khăn về vấn đề sức khỏe.

Làm thế nào có thể nhận biết mối tương quan phức tạp như vậy? Cho dù một sự cố trước tiên gây ám ảnh tâm lý rồi đến sự đau nhức hoặc người lại là những sự đau nhức ở thân thể, nó tác động mạnh tâm lý, thì sự thay đổi cá tính của bệnh nhân trong cả hai trường hợp cũng có thể nhận biết được. Người bệnh trở nên rất tĩnh táo, nhạy cảm và dễ bị kích thích. Họ mất hứng thú ở các sinh hoạt mà trước đây họ rất ưa thích; họ thấy tất cả đều là một màu đen; lúc nào họ cũng cảm thấy bị lệ thuộc người khác và luôn mong muốn có sự chiều chuộng quá đáng.

Những sự thay đổi này làm tăng khó khăn cho mối liên hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân. Người bệnh tin rằng, người ta không chịu nghe họ; không giúp đỡ họ và thậm chí không công nhận họ. Bởi vì h tự tưởng tượng và có cảm giác bị từ chối, cho nên họ rất giận tức và đòi hỏi phải tái khám liên tục. Nói cách khác rằng: „Chính những bệnh nhân „khó khăn“ như vậy, đòi hỏi bác sĩ, điều trị viên và chăm sóc phải có sự kiên nhẫn và chú tâm đặc biệt.

Những hành động và việc làm của họ không những không làm giảm cơn đau kể cả sự ám ảnh tâm lý. Nó chỉ là một “miếng băng dán tâm lý” để tránh né. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều phương pháp tâm lý trị liệu có thể can thiệp giúp họ khắc phục triệu chứng.

Bởi vì các ca lâm sàng khá phức tạp, nên bệnh nhân cần được các chuyên gia tâm lý trị liệu cũng như đau nhức can thiệp giúp đở. Và cũng bởi vì, mối tương quan giữa ám ảnh tâm lý và sự đau nhức KHÔNG RÕ RÀNG, cho nên các bác sĩ có thể dễ dàng nhầm lẫn các triệu chứng đó là hội chứng trầm cảm.

Việc điều trị mối liên hệ giữa sự đau nhức và ám ảnh tâm lý được xem là ưu tiên hàng đầu. Điều này cuối cùng cũng đã giúp được bé Piere, sau khi bác sĩ biết chứng đau lưng mãn tính của bé có tác nhân tâm lý, nên họ đã ứng dụng một phương pháp tâm lý trị liệu thích ứng. Sau một thời gian điều trị, bệnh đau lưng của Piere đã dứt hẳn.

Nhận xét:  Với kinh nghiệm lâm sàng từ bao nhiêu năm qua việc áp dụng y lý của liệu pháp PERG, chúng tôi ghi nhận một điều rằng: 80 phần trăm bệnh nhân đau nhức thân thể các kiểu, trừ những bệnh tâm lý và tâm thần, kết quả CHẨN ĐOÁN cho thấy rõ ràng: Những bệnh thân đa phần có TÁC NHÂN TÂM LÝ. Và đó CHÍNH là tác nhân tâm lý NGAY TRONG HIỆN TẠI – nó ĐANG gây cản trở sự CHỮA LÀNH. Cho nên việc CHẨN ĐOÁN – TƯ VẤN CAN THIỆP của PERG

Liệu pháp PERG của chúng tôi dựa theo 2 cơ sở để điều trị:

  1. Phương pháp test năng lượng cơ trực tiếp trên cơ thể bệnh nhân, giúp tìm được nguyên nhân chính xác đến 90%.
  2. Có những bài tập cân bằng, kích hoạt, cài đặt não bộ giúp chuyển hóa tâm lý tiêu cực từng ngày
  3. Kết quả nhận được sau khi bệnh nhân được PERG chẩn trị:
  •  Tìm được nguyên nhân gốc rễ của từng triệu chứng 1 cách chính xác nhất
  • Bệnh nhân được thực hành chuyển hóa cùng với chuyên gia cost 1-1 trong liệu trình điều trị
  • Các triệu chứng tiêu cực, rối loạn sẽ được cải thiện từng ngày một, chứ không phải đợi hàng tuần hay hàng tháng mới nhận thấy kết quả
  • Chúng tôi cam kết kết quả sau liệu trình điều trị bằng văn bản, nếu không có sự thay đổi chúng tôi sẽ hoàn lại tiền
  • Tránh được tình trạng bệnh tái phát trở lại
  • Giúp người bệnh hòa nhập và thích nghi với cuộc sống hiện tại
  • Trong liệu trình điều trị có kèm theo liệu pháp thôi miên trị liệu giúp bệnh nhân ổn định nhanh nhất có thể
Icon-Zalo Zalo Icon-Messager Messenger Icon-Youtube Youtube Icon-Instagram Tiktok